Xét nghiệm máu là gì, ý nghĩa kết quả?

Xét nghiệm máu là 1 trong các xét nghiệm cần thiết rất phổ biến, kết quả xét nghiệm máu giúp bác sĩ phát hiện ra nhiều bệnh lý ấn trong máu của người bệnh. Đây là phần không thể thiếu khi chúng ta đi khám sức khỏe, hay làm những xét nghiệm liên quan. Vậy thực tế xét nghiệm máu là gì và ý nghĩa thực sự như thế nào và chi phí xét nghiệm máu có đắt hay không? Trong khuôn khổ bài viết này suckhoe247.com xin phép được chia sẻ với các bạn những kiến thức cơ bản về xét nghiệm máu.

xet nghiem mau

Xét nghiệm máu là làm gì?

Các bác sĩ sẽ tiến hành lấy một lượng máu của bệnh nhân và tiến hành phân tích mẫu máu thu thập được. Máu thường được lấy từ tĩnh mạch hoặc mao mạch (có thể 1 phần nhỏ lấy ở động mạch).
Qua kết quả phân tích xét nghiệm máu bác sĩ có thể biết được các thông tin như: công thức máu, đường máu, mỡ máu, HIV… hỗ trợ chuẩn đoán liên quan đến rất nhiều bệnh như: bệnh gout, các bệnh liên quan đến gan, tiểu đường, thận, tim …
Có thể tóm tắt mục đích của xét nghiệm máu như sau:

    Đánh giá các cơ quan như: tuyến giáp, gan, thân, tim mạch đang hoạt động thế nào
    Chuẩn đoán tình trạng bênh, các bệnh như: tiểu đường, HIV/AIDS, thiếu máu, động mạch vành
    Đánh giá công thức máu, kiếm tra độ đông của máu
    Đánh giá hiệu quả và tác dụng của các loại thuốc đang sử dụng

Một số các xét nghiệm máu thường gặp nhất là:

    Xét nghiệm công thức máu
    Xét nghiệm sinh hóa máu
    Xét nghiệm enzyme trong máu
    Xét nghiệm máu để đánh giá nguy cơ bệnh tim
    Xét nghiệm công thức máu

Các lưu ý khi chuẩn bị xét nghiệm máu.

Xét nhiệm máu thường được làm vào buổi sáng. Có loại xét nghiệm máu cần nhịn ăn sáng, hạn chế nước ngọt và hoa quả như: bệnh liên quan đường và mỡ (tiểu đường), bệnh về tim mạch (cholesterol, triglycerid, HDL, LDL…), bệnh về gan mật. Còn các loại xét nghiệm máu khác thì không nhất thiết phải nhịn ăn.
Với các xét nghiệm máu cần nhịn ăn người cần xét nghiệm chú ý nhịn ăn trước khi xét nghiệm ít nhất 8h đồng hồ.

Xét nghiệm máu tổng quát gồm những gì?

Xét nghiệm máu tổng quát sẽ cho ta biết về công thức máu, kết quả sinh hoá máu tổng quát. Từ các kết quả này kết hợp với xét nghiệm nước tiểu các bác sĩ sẽ có những đánh giá ban đầu về các bệnh lý chúng ta có thể gặp phải dựa trên các kết quả và chi số cơ bản.

Đọc kết quả xét nghiệm máu thế nào?

Đọc công thức máu

Công thức máu là xét nghiệm quan trọng cung cấp cho bác sĩ những thông tin hữu ích về tình trạng của bệnh nhân hoặc của người được xét nghiệm. Tuy nhiên lưu ý rằng chỉ riêng công thức máu thì không thể cho phép đưa ra một chẩn đoán xác định về nguyên nhân gây bệnh, nó chỉ có tính chất định hướng, gợi ý mà thôi.
Kết quả công thức máu chỉ ra thành 3 dòng:

    Dòng hồng cầu
    Dòng bạch cầu
    Dòng tiểu cầu

Thông tin dòng hồng cầu khi xét nghiệm máu

Các trị số của dòng hồng cầu cho những thông tin về tình trạng hồng cầu của máu người được làm xét nghiệm, tất nhiên không đầy đủ, gợi ý bệnh lý thiếu máu và nguyên nhân gây thiếu máu.
Số lượng hồng cầu: thường được ký hiệu là RBC (red blood cell) hay ở một số tờ kết quả xét nghiệm của Việt Nam thì được ghi là HC, là số lượng hồng cầu có trong một đơn vị máu (thường là lít hay mm³)
Nồng độ hemoglobin trong máu: thường được ký hiệu là HGB hay Hb (đơn vị tính bằng g/l hay g/dl), đo hàm lượng hemoglobin trong máu.
Hematocrit – dung tích hồng cầu: thường được ký hiệu là Hct, đây là phần trăm thể tích của máu mà các tế bào máu (chủ yếu là hồng cầu) chiếm.
Các chỉ số hồng cầu:
MCV – thể tích trung bình hồng cầu, đơn vị thường dùng là femtolit (1 fl = 10-15lit)
MCV được tính bằng công thức: MCV = Hct / số hồng cầu. Giá trị MCV cho phép phân biệt các loại thiếu máu sau:
Thiếu máu hồng cầu nhỏ: khi MCV < 80 fl
Thiếu máu hồng cầu bình: khi 80 fl < MCV < 105 fl Thiếu máu hồng cầu đại: khi MCV > 105 fl
MCHC – nồng độ hemoglobin trung bình hồng cầu, đơn vị thường dùng là (g/dl hay g/l)
MCHC được tính theo công thức: MCHC = Hb / Hct. MCHC cho phép phân biệt thiếu máu
Thiếu máu đẳng sắc: khi MCHC trong giá trị bình thường
Thiếu máu nhược sắc: khi MCHC < 320g/l
MCH – lượng hemoglobin trung bình trong một hồng cầu, đơn vị thường dùng là picogram (1 pg = 10-12g)
MCH được tính theo công thức: MCH = Hb / số lượng hồng cầu, hay MCH = Hb / RBC

Thông tin dòng bạch cầu khi xét nghiệm máu

bach cau trong xet nghiem mau

Số lượng bạch cầu: là số lượng bạch cầu có trong một đơn vị máu, được ký hiệu là WBC (white blood cell). Giá trị bình thường của thông số này là 4000-10000 bạch cầu/mm³ (trung bình khoảng 7000 bạch cầu/mm³ máu). Số lượng bạch cầu tăng cao trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, và đặc biệt cao trong các bệnh bạch huyết cấp hoặc mãn tính (ung thư máu – leucemie).
Công thức bạch cầu: là tỷ lệ phần trăm các loại bạch cầu trong máu. Sự thay đổi tỷ lệ này cho nhiều ý nghĩa quan trọng.
Bạch cầu trung tính: là những tế bào trưởng thành ở trong máu tuần hoàn và có một chức năng quan trọng là thực bào, chúng sẽ tấn công và phá hủy các loại vi khuẩn, virus ngay trong máu tuần hoàn khi các sinh vật này vừa xâm nhập cơ thể. Vì vậy bạch cầu đa nhân trung tính tăng trong các trường hợp nhiễm trùng cấp. Đôi khi trong trường hợp nhiễm trùng quá nặng như nhiễm trùng huyết hoặc bệnh nhân suy kiệt, trẻ sơ sinh, lượng bạch cầu này giảm xuống. Nếu giảm quá thấp thì tình trạng bệnh nhân rất nguy hiểm vì sức chống cự vi khuẩn gây bệnh giảm sút nghiêm trọng. Bạch cầu cũng giảm trong những trường hợp nhiễm độc kim loại nặng như chì, arsenic, khi suy tủy, nhiễm một số virus…
Bạch cầu đa nhân ái toan: khả năng thực bào của loại này yếu, nên không đóng vai trò quan trọng trong các bệnh nhiễm khuẩn thông thường. Bạch cầu này tăng cao trong các trường hợp nhiễm ký sinh trùng, vì bạch cầu này tấn công được ký sinh trùng và giải phóng ra nhiều chất để giết ký sinh trùng. Ngoài ra bạch cầu này còn tăng cao trong các bệnh lý ngoài da như chàm, mẩn đỏ trên da…
Bạch cầu đa nhân ái kiềm: đóng vai trò quan trọng trong một số phản ứng dị ứng.
Mono bào: là dạng chưa trưởng thành của đại thực bào trong máu vì vậy chưa có khả năng thực bào. Đại thực bào là những tế bào có vai trò bảo vệ bằng cách thực bào, khả năng này của nó mạnh hơn của bạch cầu đa nhân trung tính. Chúng sẽ phân bố đến các mô của cơ thể, tồn tại tại đó hàng tháng, hàng năm cho đến khi được huy động đi làm các chức năng bảo vệ. Vì vậy mono bào sẽ tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn mãn tính như lao, viêm vòi trứng mãn…
Lympho bào: đây là những tế bào có khả năng miễn dịch của cơ thể, chúng có thể trở thành những tế bào “nhớ” sau khi tiếp xúc với tác nhân gây bệnh và tồn tại lâu dài cho đến khi tiếp xúc lần nữa với cùng tác nhân ấy, khi ấy chúng sẽ gây ra những phản ứng miễn dịch mạnh mẽ, nhanh và kéo dài hơn so với lần đầu. Lympho bào tăng trong ung thư máu, nhiễm khuẩn máu, nhiễm lao, nhiễm virus như ho gà, sởi… Giảm trong thương hàn nặng, sốt phát ban…

Thông tin dòng tiểu cầu khi xét nghiệm máu

Số lượng tiểu cầu: cho biết số lượng tiểu cầu có trong một đơn vị máu. Số lượng tiểu cầu bình thường là 150.000-400.000 tiểu cầu/mm³ máu. Tiểu cầu có vai trò quan trọng trong quá trình đông cầm máu, vì vậy khi số lượng tiểu cầu giảm dưới 100.000/mm³ máu thì nguy cơ xuất huyết tăng lên.
Thể tích trung bình tiểu cầu: MPV – cũng được tính bằng đơn vị femtolit, giá trị bình thường từ 7,5-11,5 fl

Đọc kết quả sinh hoá máu

1. GLU – GLUCOSE

Đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l. Nếu vượt quá giới hạn cho phép thì tăng hoặc giảm đường máu. Tăng trên giới hạn là người có nguy cơ cao về mắc bệnh tiểu đường.

2. Men gan: SGOT & SGPT

Giới hạn bình thường từ 9,0-48,0 với SGOT và 5,0-49,0 với SGPT. Nếu vượt quá giới hạn này chức năng thải độc của tế bào gan suy giảm.

3. Mỡ máu: CHOLESTEROL, TRYGLYCERID, HDL-CHOLES, LDL-CHLES

  • Giới hạn bình thường của các yếu tố nhóm này như sau:
  • Giới hạn bình thường từ 3,4-5,4 mmol/l với CHOLESTEROL.
  • Giới hạn bình thường từ 0,4-2,3 mmol/l với TRYGLYCERID.
  • Giới hạn bình thường từ 0,9-2,1 mmol/l với HDL-Choles.
  • Giới hạn bình thường từ 0,0-2,9 mmol/l với LDL-Choles.

Nếu 1 trong các yếu tố trên đây vượt giới hạn cho phép thì có nguy cơ cao trong các bệnh về tim mạch và huyết áp. Riêng chất HDL-Choles là mỡ tốt, nếu cao nó hạn chế gây xơ tắc mach máu.

4. GGT: Gama globutamin

Bình thường nếu chức năng gan tốt, GGT sẽ có rất thấp ở trong máu (Từ 0-53 U/L). Khi tế bào gan phải làm việc quá mức, khả năng thải độc của gan bị kém đi thì GGT sẽ tăng lên -> Giảm sức đề kháng, miễn dịch của tế bào gan kém đi. Dễ dẫn tới suy tế bào gan. Nếu với người có nhiễm SVB trong máu mà GGT, SGOT & SGPT cùng tăng thì cần thiết phải dùng thuốc bổ trợ tế bào gan và tuyệt đối không uống rượu bia nếu không thì nguy cơ dẫn đến VGSVB là rất lớn.

5. URE (Ure máu)

Là sản phẩm thoái hóa quan trọng nhất của protein được thải qua thận. Giới hạn bình thường: 2.5 – 7.5 mmol/l.

6. BUN (Blood Urea Nitrogen)

BUN: là nitơ của ure trong máu. Giới hạn bình thường 4,6 – 23,3 mg/dl. -> Bun = mmol/l x 6 x 28/60 = mmol/l x 2,8 (mg/dl).

  • Tăng trong: suy thận, suy tim, ăn nhiều đạm, sốt, nhiễm trùng…
  • Giảm trong: ăn ít đạm, bệnh gan nặng…

7. CRE (Creatinin)

Là sản phẩm đào thải của thoái hóa creatin phosphat ở cơ, lượng tạo thành phụ thuộc khối lượng cơ, được lọc qua cầu thận & thải ra nước tiểu; cũng là thành phần đạm ổn định nhất không phụ thuộc vào chế độ ăn -> Có giá trị xác định chức năng cầu thận. Giới hạn bình thường: nam 62 – 120, nữ 53 – 100 (đơn vị: umol/l).

  • Tăng trong: bệnh thận, suy tim, tiểu đường, tăng huyết áp vô căn, NMCT cấp…
  • Giảm trong: có thai, sản giật…

8. URIC (Acid Uric = urat)

Là sản phẩm chuyển hóa của base purin (Adenin, Guanin) của ADN & ARN, thải chủ yếu qua nước tiểu. Giới hạn bình thường: nam 180 – 420, nữ 150 – 360 (đơn vị: umol/l).
Tăng trong:

  • Nguyên phát: do sản xuất tăng, do bài xuất giảm (tự phát) -> liên quan các men: bệnh Lesh Nyhan, Von Gierke..
  • Thứ phát: do sản xuất tăng (u tủy, bệnh vảy nến..), do bài xuất giảm (suy thận, dùng thuốc, xơ vữa động mạch..).
  • Bệnh Gout (thống phong): tăng acid uric/ máu có thể kèm nốt tophi ở khớp & sỏi urat ở thận.

Giảm trong: bệnh Wilson, thương tổn tế bào gan

Lời kết: Xét nghiệm máu là một trong những xét nghiệm quan trọng để đánh giá sức khoẻ của mỗi người. Nếu trong điều kiện cho phép nên định kỳ 1 năm có thể tiến hành xét nghiệm máu tổng quát từ 2 – 3 lần để có thể sớm phát hiện các vấn đề hoặc các nguyên nhân có thể dẫn tới bệnh cần phòng tránh. Suckhoe247.net mong rằng qua bài viết này các bạn sẽ hiểu hơn về bảng kết quả xét nghiệm máu của mình cũng như tự đánh giá được tình trạng sức khoẻ của bản thân.

Nội dung tham khảo từ:
Wiki: https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_th%E1%BB%A9c_m%C3%A1u
Sức khoẻ & Đời sống: http://suckhoedoisong.vn
Tạp chí sinh học: https://tapchisinhhoc.com/

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *