Chỉ số Axit uric trong xét nghiệm máu là gì?

Axit uric máu tăng cao liên quan đến việc ăn nhiều đạm động vật và uống nhiều rượu bia, đây chắc chắn là lý do nam giới bị bệnh tăng axit uric nhiều hơn phụ nữ. Vì vậy, chỉ số xét nghiệm máu khi khám sức khỏe được nhiều nam giới quan tâm chính là axit uric.  Axit uric thế nào là cao? Khi nào cần dùng thuốc điều trị? Bài viết này sẽ cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết cho bạn.

Axit uric máu: chuyển hóa purin và sự tạo thành axit uric

Axit uric là gì? Là sản phẩm cuối cùng của quá trình thoái biến purine. Là một axit yếu nên thường bị ion hóa thành muối urate hòa tan trong huyết tương. Đại đa số tồn tại dưới dạng monosodium urate. Giới hạn hòa tan của muối urat khoảng 6,8 mg/dl ở nhiệt độ 37 0C. Ở nồng độ cao hơn các tinh thể urate sẽ bị kết tủa. Tuy nhiên, trong một số trường hợp các tinh thể urate không bị kết tủa, phải chăng do ảnh hưởng của một số chất hòa tan trong huyết thanh.

Phần lớn axit uric trong máu ở dạng tự do, chỉ khoảng <4% gắn với protein huyết thanh. Nồng độ axit uric máu trung bình ở nam: 5,1 ± 1,0 mg/dl (420 μmol/lít), nữ 4,0 ± 1mg/dl (360 μmol/lít). 

Khi nồng độ axit uric máu vượt qua giới hạn trên được coi là có tăng axit uric. Bình thường quá trình tổng hợp và bài viết axit uric ở trạng thái cân bằng. Tổng lượng axit uric trong cơ thể có khoảng 1200 mg ( ở nam) 600 mg ( ở nữ). 2/3 tổng lượng acid uric được tổng hợp mới và cũng với số lượng tương tự đào thải chủ yếu qua thận.

Trong nước tiểu, axit uric hòa tan dễ dàng hơn trong nước. Ph nước tiểu ảnh hưởng lớn đến sự hòa tan axit uric, bình thường lượng axit uric thải qua nước tiểu là trên 800 mg/ngày. Do vậy, pH càng kiềm càng thuận lợi cho việc thải axit uric và ngược lại nước tiểu càng toan thì khó khăn cho việc đào thải axit uric.

  • pH 5,0: axit uric bão hòa với nồng độ từ 390-900 μmol/L
  • pH 7,0: Acid uric bảo hòa với nồng độ từ 9480-12000 μmol/L

Phân biệt chứng tăng axit uric và bệnh gout( gút)

Axit uric là một chất thừa, sản phẩm của chuyển hóa tự nhiên trong cơ thể. Khi tế bào chết đi, nhân của nó bị phá hủy và chuyển hóa thành axit uric. Đây là nguồn axit uric nội sinh.

Một số nguyên nhân và phân loại tăng acid uric máu

Tăng axit uric máu có thể do:

  • Ăn nhiều thức ăn có chứa purin, tăng tổng hợp purin nội sinh, tăng thoái biến nucleotite hoặc phối hợp dẫn đến tăng tổng hợp axit uric máu.
  • Giảm bài tiết axit uric qua thận: có thể do giảm lọc ở cầu thận, giảm tiết urat ở ống thận hoặc phối hợp.
  • Phối hợp cả 2 nguyên nhân kể trên.

Phân loại tăng tổng hợp axit uric máu:

  • Tăng axit uric máu tiên phát: có thể không rõ nguyên nhân, thiếu HGPRT( một phần hay toàn bộ), tăng hoạt tính men PRPP Synthetase.
  • Tăng axit uric máu thứ phát: ăn quá nhiều thức ăn có purine, tăng tái tạo nucleotite, tăng thoái hóa ATP, mắc bệnh dự trữ glycoden hay bệnh cơ nặng.

Giảm bài tiết axit uric:  

 

  • Tăng axit uric máu tiên phát: Không rõ nguyên nhân
  • Tăng axit uric máu thứ phát:

 

Suy thận: làm ức chế bài tiết uric ở ống thận, tăng tái hấp thu urat ở ống thận

  • Cơ chế chưa xác định rõ:

Tăng huyết áp: cường chức năng tuyến cận giáp

Sử dụng một số thuốc làm tăng axit uric máu như cyclosporine, pyrazinamide, ethambutol, liều thấp aspirin).

Bệnh thận do nhiễm độc chì.

axit uric có thể tăng do sử dụng nhiều rượu bia

Tăng acid uric máu do nguyên nhân phối hợp:

 

  • Lạm dụng rượu bia
  • Thiếu oxy và giảm bão hòa oxy tổ chức
  • Thiếu hụt glucose- 6- phosphatase
  • Thiếu hụt fructose-1- phosphate-aldolase.

 

Một số quan niệm về gen

Ở Anh, số người mắc phải căn bệnh gút đã tăng hàng năm và nguyên nhân được cho là vì họ ăn uống không điều độ. Một cuộc thử nghiệm gene trên một mẫu hơn 12 ngàn người được công bố trên tạp chí Nature Genetics cho thấy gene có thể là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng này.

Một số người có nguy cơ cao hơn hoặc thấp hơn nếu mắc phải bệnh gút tùy theo gene mà họ thừa hưởng từ bố mẹ hoặc ông bà. Ở một người khỏe mạnh, acid uric, một chất phế thải xuất hiện trong máu được thận lọc ra và thải ra khỏi cơ thể qua đường nước tiểu. Tuy nhiên, ở một số người, thận không làm được chức năng này một cách triệt để dẫn đến acid uric tích tụ trong máu, kết thành tinh thể ở các khớp xương và dẫn đến tình trạng viêm, gây đau nhức cho người bệnh. Các nhà khoa học tại MRC Human Genetics đã nghiên cứu bệnh và chỉ ra rằng gen với kí hiệu SLC2A, có thể làm cho cơ thể khó thải chất axit uric ra khỏi máu. Đây là phát hiện quan trọng giúp cho việc phát triển các phương thức tốt hơn để chẩn đoán bệnh gút.

Liên quan giữa axit uric với uống rượu bia

Uống nhiều rượu bia làm tăng dị hóa các nucleotid có nhân purin, làm tăng dị hóa ATP thành AMP gây tăng sản xuất axit uric. Rượu còn có thể gây mất nước và làm tăng axit lactic máu. Khi uống rượu cùng các đồ ăn thì bản thân rượu đã bổ sung một lượng purin, mặt khác còn hạn chế bài tiết urat qua nước tiểu, tạo điều kiện giữ lại purin của thức ăn và tăng quá trình tinh thể hóa các urat ở nước tiểu và tế bào.

axit uric liên quan rất lớn tới bệnh gout

Phân biệt chứng tăng axit uric và bệnh gút. Khi nào cần điều trị?

Axit uric được thải loại 80% qua đường niệu, 20% qua đường tiêu hóa và da. Trong quá trình chuyển hóa của cơ thể, khi nguồn tạo ra axit uric nhiều nhưng thải ra ít thì sẽ làm cho axit uric bị giữ lại trong máu và lắng đọng trong các mô. Nơi tích tụ nhiều nhất axit uric thường là ở các khớp và gây ra bệnh đặc trưng là gút. Ngoài ra axit uric còn lắng ở tim gây ra bệnh tim mạch, lắng ở thận gây ra suy thận, lắng ở đường niệu gây ra sỏi thận. Có nhiều trường hợp axit uric trong máu rất cao do nó được tạo ra nhiều mà thải ra ít thì người ta gọi là tăng axit uric máu chứ không gọi là bệnh gút.

Cần phải đến cơ sở y tế thăm khám để chẩn đoán được chính xác tăng axit uric máu có phải là bệnh gút hay không rồi mới có phác đồ điều trị gút. Tuyệt đối không nên tự ý dùng thuốc điều trị gút nếu chỉ coi tăng axit uric máu là có bệnh gút khi đi kèm với sự lắng đọng axit uric gây tổn thương khớp hay những tổ chức khác. Điều trị những cơn viêm khớp go gút hoàn toàn khác với điều trị tăng axit uric trong máu.

Thông thường, lượng axit uric trong máu luôn được giữ ổn định ở mức dưới 7mg/dl. Khi lượng axit uric trong máu tăng cao hơn giới hạn bình thường này thì được coi là tăng axit uric máu. Vậy câu hỏi mà nhiều người quan tâm chính là khi bị tăng axit uric có cần điều trị ngay không?

Với chứng tăng axit uric máu không có triệu chứng, các trường hợp tăng axit uric ở mức độ trung bình dưới 10mg/dl người bệnh được hướng dẫn chế độ ăn uống phù hợp để cơ thể không tạo ra thêm axit uric. Bệnh nhân hạn chế ăn đạm động vật, ăn nhiều rau quả, không được uống rượu bia. Nếu đã điều chỉnh chế độ ăn mà axit uric vẫn cao mới cần dùng thuốc.

Khi axit uric ở mức trên 12mg/dl, nguy có bệnh tim mạch cận kề thì bác sĩ sẽ kê các thuốc điều trị hạ axit uric cho bạn. Các trường hợp khác đều không có chỉnh định dùng thuốc, trừ bệnh nhân có tình trạng hủy tế bào quá nhiều, xuất hiện sự sản xuất axit uric cấp tính như ở bệnh nhân ung thư phải hóa trị hoặc xạ trị thì có thể dùng liệu pháp dự phòng tăng axit uric máu nhằm tránh tình trạng suy thận cắp do tăng lắng đọng tinh thể urat ở ống thận.

Bệnh nhân có chỉ số acid uric trong máu khi xét nghiệm luôn ở mức trên 10mg/dl mà kháng với các chế độ điều chỉnh ăn uống, hoặc tiền sử gia đình bị gút, bị sỏi thận kèm tăng axit uric máu, có dấu hiệu tổn thương thận đều cần phải dùng các thuốc giảm axit uric.

Thuốc được lựa chọn để điều trị hội chứng tăng axit uric máu là thuốc ức chế men xanthin oxydase làm giảm tạo thành axit uric như allopurinol, thiopurinol hoặc thuốc tiêu axit uric( enzym uricase). Lưu ý không dùng thuốc tăng thải axit uric qua thận như probenecid ở những bệnh nhân có một trong các biểu hiện sau: tiền sử hoặc đang có sỏi thận, suy thận, có hạt tophi và giảm bài tiết urat qua thận.

Lời khuyên cho người dùng thuốc: Thuốc hạ axit uric thông dụng và phổ biến nhất là allopurinol. Thuốc là “con dao hai lưỡi” chính vì vậy việc sử dụng thuốc luôn cần phải thận trọng và đúng chỉ định để tránh gặp phải những tác dụng phụ và biến chứng do thuốc gây ra. Khi dùng thuốc bệnh nhân cần theo dõi và đề phòng bị phản ứng thuốc, thông báo với bác sĩ kịp thời để được tư vấn ngưng thuốc hoặc cần đến bệnh viện để điều trị hay không.

Sức khỏe của bạn tốt hay xấu phụ thuộc chính vào việc bạn có trang bị cho mình đầy đủ kiến thức về bệnh hay không. Hãy chia sẻ bài viết này để bạn bè và người thân cùng biết thông tin hữu ích này nhé.

 

 

 

 

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *