Bệnh gút là gì? Bệnh gout, Thống phong – Triệu chứng, Điều trị

Bệnh gút là bệnh rối loạn chuyển hóa axit uric gây tổn thương tới các khớp. Gút khởi phát thường đột ngột, bệnh nhân có những cơn đau gút cấp dữ dội, cảm giác căng, nóng đỏ, sưng ở những khớp bị viêm. Vậy người bệnh gout cần làm gì để sống chung với gout một cách an toàn, tránh biến chứng nguy hiểm do gout gây ra?

Những điều cần biết về bệnh gout

Trước kia, bệnh gút còn được coi là bệnh của vua chúa, hoàng tộc, bệnh của nhà giàu vì thường xuyên ăn những món ăn sơn hào hải vị, nhiều thịt, nhiều đạm nhưng hiện nay với sự phát triển ngày một nâng cao về đời sống thì căn bệnh gút đang là nỗi lo của mọi người mọi nhà.

Bệnh Gút là gì? Triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trị như thế nào?

Bệnh Gút ( Gout), trong Đông y còn gọi là bệnh Thống Phong là một dạng viêm khớp do sự rối loạn chuyển hóa axit uric trong cơ thể gây ra.
Thông thường acid uric được lọc và đào thải qua thận, khi lượng axit này tăng cao chuyển hóa thành các tinh thể muối Urat tích tụ ở các vị trí trong cơ thể như khớp bàn tay, ngón tay, đầu gối, bàn chân, mắt cá chân, ngón chân… gây ra viêm khớp, sưng đỏ tại chỗ và đau đớn khi chạm vào.
Cụ thể nồng độ axit uric ở ngưỡng bị bệnh đối với nam là vượt quá 420 µmol/l (7mg/dl) còn đối với nữ là vượt quá 360 µmol/l (6mg/dl).
Gout có thể gặp ở bất kì ai, bất kì độ tuổi nào, nhưng thường gặp nhất ở đàn ông từ 40- 50 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh gout ở nam giới cao gấp 9 lần so với nữ giới. Phụ nữ mắc bệnh này thường xảy ra ở giai đoạn mãn kinh.

Dấu hiệu của bệnh gout

Triệu chứng bệnh gút

Gout cấp tính, các triệu chứng bệnh gút xuất hiện đột ngột và dữ dội, người bệnh đau và sưng khớp. Da xung quanh khớp đỏ hoặc tím. Cơn đau gút cấp thường xảy ra vào ban đêm, liên tục trong 5-10 ngày và sẽ biến mất sau đó. Nếu không được điều trị, các cơn đau gút cấp sẽ xảy ra với tần suất nhiều hơn và kéo dài hơn. Người bệnh sẽ bị tổn thương các khớp do các cơn gout cấp xảy ra thường xuyên.

Phân loại bệnh Gout

Các tác nhân gây bệnh Gout được đánh giá do di truyền, chế độ ăn uống, giới tính, enzim hoặc do các bệnh khác liên quan…

Có ba loại bệnh Gút bao gồm:

  • Gout nguyên phát: các trường hợp bệnh nhân Gout nguyên phát chưa xác định rõ nguyên nhân nhưng thường do yếu tố di truyền hoặc uống quá nhiều bia rượu, ăn nhiều thực phẩm chứa purin làm tăng quá trình tích tụ axit uric máu. Bệnh gout nguyên phát thường gặp ở 95% nam giới ở độ tuổi 30-60, nữ giới mắc sau giai đoạn mãn kinh.
  • Gout thứ phát: xuất hiện do tăng axit uric trong máu sau khi bệnh nhân đã mắc một số bệnh về thận hoặc các bệnh do tiêu tế bào quá mức nhu bạch cầu thể tủy mạn, thiếu máu, vảy nến…hay do sử dụng lâu dài các thuốc lợi tiểu. Nếu tìm được đúng nguyên nhân tăng axit uric và loại trừ được nguyên nhân này thì sẽ khỏi bệnh.
  • Gout do bất thường về enzym: bệnh nhân bị thiếu hụt hoàn toàn hoặc một phần enzym HGPRT, đó là enzym tham gia vào quá trình chuyển hóa acid uric. Đây là nguyên nhân gút khởi phát sớm ở trẻ em( thường rất nặng và hiếm gặp).

Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh gout nhưng chủ yếu là các nguyên nhân sau:

  • Yếu tố giới tính: Ở nước ta hiện nay có đến 99% người bệnh gút là nam giới
  • Yếu tố độ tuổi: thường gặp ở độ tuổi 30-60 ở nam, nữ ở độ tuổi sau mãn kinh
  • Yếu tố gia đình: do gen di truyền hoặc cùng chung một chế độ sinh hoạt ăn uống của những người trong gia đình.
  • Thói quen uống rượu bia: 75-84% bệnh nhân Gout uống bia rượu thường xuyên từ 7-10 năm.
  • Thói quen ăn nhiều nội tạng, thịt đỏ, hải sản…
  • Yếu tố sức khỏe: bệnh gout liên quan tới một số bệnh chuyển hóa khác như rối loạn chuyển hóa lipid máu, bệnh đái tháo đường. Bệnh béo phì làm tăng nguy cơ mắc bệnh Gout lên tới 5 lần.
  • Ảnh hưởng của một số loại thuốc làm giảm thải acid uric qua thận, rối loạn chuyển hóa axit uric.

3 biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe do bệnh gút gây ra

Bản thân người bệnh gút do chưa có đầy đủ kiến thức về bệnh nên thường chủ quan, không kiên trì điều trị bệnh. Kết quả là bệnh gút tưởng chừng dễ điều trị mà lại vô cùng khó khăn để chữa trị một cách hiệu quả mà không gặp biến chứng.
Nếu bệnh nhân không được điều trị tích cực các cơn đau gút cấp diễn ra thường xuyên và dày đặc, mức độ đau ngày càng nặng hơn và chuyển sang gout mạn tính. Vào thời điểm này các hạt tophi lắng đọng ở khớp, tinh thể muối urat nhỏ bé nhưng hình thoi sắc nhọn gây viêm màng hoạt dịch, viêm hoạt dịch, phá hủy sụn khớp, tiêu đầu xương làm cho khớp bị thoái hóa dần. Hậu quả tất yếu của bệnh gút chính là thoái hóa khớp.

  • Tàn phế khớp: Hạt tophi cùng với thoái hóa khớp sẽ gây biến dạng khớp, cản trở hoạt động của khớp. Bệnh nhân bị viêm khớp nhiễm khuẩn, lở loét đến mức không thể giữ khớp mà bắt buộc phải tháo khớp hoặc có trường hợp phải cắt cụt chi.
  • Hủy hoại thận: Theo thống kê có 10-15% bệnh nhân gút mắc các bệnh lý về thận, chủ yếu là viêm khe thận và viêm cầu thận. Nồng độ axit uric máu tăng cao và được đào thải qua đường nước tiểu là điều kiện thuận lợi để muối urat lắng đọng tại hệ thống dẫn niệu, lâu ngày sẽ gây ra các bệnh lý về thận, trầm trọng là suy thận.
  • Đột quỵ: Ở nhiều bệnh nhân bị gút mạn tính lâu năm còn có nguy cơ bị đột quỵ, tai biến cao hơn so với người bình thường là do các tinh thể urat có thể bị lắng đọng ở những mảng xơ vữa trong lòng mạch máu gây ra những tổn thương hệ mạch, giảm lưu thông máu, viêm màng trong và cơ tim, tổn thương van tim, tích tụ ở mạch máu não…

Những biến chứng bệnh gút mạn tính vô cùng nguy hiểm tới tính mạng nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Vì vậy, việc trang bị kiến thức cho mình và người thân về cách phòng và điều trị bệnh gút là rất quan trọng.

Cách điều trị bệnh gút

Hiện nay chưa có phương pháp điều trị bệnh gút nào có thể chữa khỏi hoàn toàn bệnh mà chỉ có thể điều trị các cơn gout cấp tính, dự phòng cơn gout tái phát và điều trị dự phòng các biến chứng do gout gây ra ở những bệnh nhân bị gout mạn tính.

Người bệnh cần tuân theo nguyên tắc điều trị bệnh gút như sau:

  • Chống viêm khớp khi có cơn gút cấp( hoặc đợt cấp của gút mạn tính): thường dùng các thuốc chống viêm
  • Cơn gút cấp tái phát được điều trị dự phòng, tránh chuyển thành mạn tính ở giai đoạn đầu. Ở giai đoạn mạn tính, cách điều trị các tổn thương ở giai đoạn này( hạt tophi, tổn thương khớp và thận do gút mạn tính): chế độ ăn uống, thuốc hạ axit uric nếu cần. Kiềm hóa nước tiểu nhằm tránh tạo sỏi thận. Cần lưu ý thêm các vấn đề do hạt tophi, tổn thương khớp và thận ở giai đoạn gút mạn tính gây ra.

Cách điều trị gút (gout) cấp tính

Thuốc điều trị các cơn gút cấp thường dùng colchicine. Tùy từng mức độ nặng nhẹ của bệnh, cũng như từng thể trạng của bệnh nhân và các bệnh lý đi kèm như bệnh thận, đau dạ dày tá tràng mà có thể dùng thêm hoặc thay thế bằng thuốc chống viêm không steroid, thuốc corticoid.

  • Thuốc colchicine là một trong những thuốc được sử dụng đầu tiên trong điều trị cơn gút cấp tính. Tác dụng giảm đau nhanh trong 48 giờ. Tuy nhiên thuốc gây cho bệnh nhân những cảm giác buồn nôn, tiêu chảy. Vì vậy, người bệnh gút thường được dùng kèm với thuốc giảm nhu động kết hợp để điều trị bệnh gút hiệu quả.
  • Colchicine được coi là một cách kiểm tra quan trọng chẩn đoán gút mặc dù thuốc không làm thay đổi được nồng độ axit uric máu.
  • Thuốc chống viêm không steroid là nhóm thuốc có tác dụng chống viêm khá hiệu quả trong cơn gút cấp tính, song tác dụng phụ nhiều và trầm trọng đặc biệt là đối với tiêu hóa, thận…). Bệnh nhân đặc biệt phải lưu ý tới các chống chỉ định của nhóm thuốc: thuốc này chỉ được dùng khi bệnh nhân không đáp ứng với colchicine, hoặc dùng kết hợp với colchicine trong trường hợp bệnh nhân có ngưỡng đau quá cao.
  • Nhóm thuốc corticoid: trong trường hợp đặc biệt điều trị cơn gút cấp có thể sử dụng corticoid đường uống ngắn ngày hoặc tiêm nội khớp. Do tình trạng lạm dụng thuốc này ở nước ta nên đây là loại thuốc được khuyến cáo là không nên sử dụng để điều trị bệnh gút.

Điều trị dự phòng cơn gút( gout) cấp tái phát

Điều trị dự phòng cơn gút cấp được xem là phương pháp điều trị hiệu quả, giảm axit uric máu, hạn chế sự lắng đọng urat trong mô và tổ chức từ đó kiểm soát được các cơn gút tái phát và ngăn ngừa hình thành gout mạn tính.

    • Thực hiện chế độ ăn uống, sinh hoạt phù hợp.Vậy người bệnh gút nên ăn gì?
      Người bệnh gút kiêng ăn thức ăn chứa nhiều purin( thịt có màu đỏ, phủ tạng động vật, hải sản…), kiêng rượu bia, các đồ uống có cồn và chất kích thích như trà, cà phê.
    • Nhóm thực phẩm ít chứa nhân purin người bệnh gút nên ăn là ngũ cốc, các loại hat, bơ, mỡ, đường, trứng, sữa, phomat, rau quả.
    • Bệnh nhân gút nên duy trì cân nặng ở mức độ hợp lý, nếu thừa cân và béo phì không nên giảm cân quá nhanh mà nên giảm cân từ từ.
    • Tăng cường đào thải axit uric qua thận bằng uống nhiều nước, không ăn thức ăn có vị chua như quả chua, dưa chua, cà muối…
    • Không ăn chế phẩm có ca cao, chocolate

Người bệnh gút nên ăn uống theo khẩu phần với cách tính các thực phẩm tương đương như sau:

Lượng đạm trong 100g thịt= 180g đậu phụ=70g lạc hạt= 100g cá= 100g tôm.

Thực đơn cho bệnh nhân gout cấp tính:

Đạm( protein): 10% tổng năng lượng=40g=160kcal
Đường bột: 75% tổng năng lượng= 300g=1.200kcal
Chất béo:15% tổng năng lượng=27g=240kcal.
Rau quả ăn tùy ý nhưng không ăn rau quả có vị chua như cà muối.

Thực đơn cho bệnh nhân gout mạn tính:

Theo chế độ ăn thông thường nhưng cần lựa chọn thức ăn chứa ít purin, protein không 1g/kg cân nặng. Như vậy lượng đạm động vật và đậu đỗ không nên quá 100g/ngày.

Ngày nay bệnh nhân gút thường rơi vào vòng luẩn quẩn do những tác dụng phụ của các thuốc Tây y trong quá trình điều trị bệnh mà vẫn chịu những cơn đau gút cấp tái phát liên tục. Việc tuân thủ đúng các nguyên tắc điều trị bệnh gút và áp dụng một chế độ sinh hoạt ăn uống lành mạnh và điều độ chính là phương thuốc hữu hiệu nhất điều trị dự phòng cơn đau gút cấp hiệu quả, an toàn.

Nếu bạn cảm thấy thông tin thực sự bổ ích, hãy chia sẻ tới những người thân yêu của bạn ngay hôm nay để cùng nhau sống vui khỏe mỗi ngày.

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *